Hướng dẫn nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự về một số tiêu chí xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Thiệt hại có thể là thiệt hại về tài sản, danh dự, nhân phẩm hay tính mạng, sức khỏe con người. Sau đây sẽ hướng dẫn chi tiết về các nguyên tắc làm phát sinh bồi thường thiệt hại thông qua bài viết sau đây.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì?

Hiện nay, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong Bộ luật Dân sự được quy định tại Chương XX, phần thứ ba Bộ luật Dân sự “Trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng”, tuy nhiên không có quy định cụ thể thế nào là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Có thể hiểu, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm bồi thường không phát sinh từ các quan hệ trong hợp đồng.

Theo đó, căn cứ theo khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định  rằng người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, nguyên tắc bồi thường thiệt hại như sau:

Thứ nhất, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cụ thể:

Thiệt hại thực tế là thiệt hại đã xảy ra về mặt vật chất hoặc về tinh thần, được tính thành tiền tại thời điểm giải quyết bồi thường. Thiệt hại phát sinh sau thời điểm giải quyết bồi thường lần đầu được xác định tại thời điểm giải quyết bồi thường lần tiếp theo nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.

Ví dụ: A gây thương tích cho B mà B phải điều trị dài ngày. Tại thời điểm Tòa án giải quyết bồi thường thì tổng thiệt hại thực tế là X đồng, bao gồm: chi phí điều trị, mức thu nhập bị mất hoặc giảm sút; chi phí cho người chăm sóc, tổn thất tinh thần. Sau đó, B vẫn phải tiếp tục điều trị thì các chi phí phát sinh sau thời điểm Tòa án giải quyết sẽ được giải quyết trong vụ án khác nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.

Thiệt hại được bồi thường toàn bộ là tất cả các thiệt hại thực tế xảy ra đều phải được bồi thường

Thiệt hại phải được bồi thường kịp thời là thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng nhằm ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để giải quyết yêu cầu cấp bách của người bị thiệt hại (như buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng…).

Thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.

Nếu mức bồi thường thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người bồi thường, thì phải có căn cứ chứng minh rằng nếu Tòa án tuyên buộc bồi thường thiệt hại thì không có điều kiện để thi hành án.

Ví dụ: Một người vô ý làm cháy nhà người khác gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng. Người gây thiệt hại có tổng tài sản là 100.000.000 đồng, thu nhập trung bình hàng tháng là 2.000.000 đồng. Mức thiệt hại này là quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại.

Thứ ba, khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Theo đó, bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có căn cứ cho rằng do có sự thay đổi về tình hình kinh tế – xã hội, sự biến động về giá cả; sự thay đổi về tình trạng thương tật, khả năng lao động của người bị thiệt hại; sự thay đổi về khả năng kinh tế của người có trách nhiệm bồi thường mà mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì có thể yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại.

Thứ tư, khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

Khi đồng thời hai bên cùng có lỗi, nhưng bên bị thiệt hại có một phần lỗi đối với thiệt hại xảy ra thì không được bồi thường tương ứng với phần lỗi đó.

Ví dụ: A và B cùng lái ô tô tham gia giao thông, xảy ra tai nạn do đâm va vào nhau dẫn đến A bị thiệt hại 100.000.000 đồng. Cơ quan có thẩm quyền xác định A và B cùng có lỗi với mức độ lỗi của mỗi người là 50%. Trường hợp này, B phải bồi thường 50.000.000 đồng cho A (50% thiệt hại).

Thứ năm, Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Theo đó, bên có quyền và lợi ích bị xâm phạm biết, nhìn thấy trước việc nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn mà để thiệt hại xảy ra và có đủ điều kiện để áp dụng các biện pháp ngăn chặn kịp thời, nhanh chóng nhằm ngăn chặn, hạn chế được thiệt hại xảy ra nhưng đã để mặc thiệt hại xảy ra thì bên có quyền và lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: Nhà của A bị cháy, B đỗ xe ô tô gần nhà A, B biết được nếu không di dời thì khả năng đám cháy sẽ lan sang làm cháy ô tô của B và B có điều kiện để di dời nhưng B đã bỏ mặc dẫn đến xe ô tô bị cháy. Trường hợp này, B không được bồi thường thiệt hại.

Cơ sở pháp lý: Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao.

Tham khảo thêm: Các trường hợp được giảm mức bồi thường thiệt hại

Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng

Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Theo quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh trong những trường hợp sau:

  • Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.
  • Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  • Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2022/ NQ-HĐTP có quy định, hướng dẫn trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau:

  • Có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác;
  • Có thiệt hại xảy ra là thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần;
  • Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi xâm phạm. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi xâm phạm và ngược lại hành vi xâm phạm là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Như vậy, khác với Bộ luật Dân sự 2005 thì Bộ luật Dân sự 2015 không quy định yếu tố lỗi là yếu tố bắt buộc để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, mà có những trường hợp; trách nhiệm bồi thường thiệt hại vẫn phát sinh khi không có yếu tố lỗi. Ví dụ căn cứ tại Điều 602 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường: “Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi.”

Khi xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì cần phải xem xét về các yếu tố khách quan, chủ quan; trong đó cần quan tâm đến yếu tố lỗi của các bên. Tuy nhiên, lỗi của người vi phạm không phải là yếu tố bắt buộc để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là vấn đề quan trọng, ảnh hưởng đến việc xác định và áp dụng trách nhiệm dân sự.

Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân

Xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân, cụ thể được quy định tại Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

  • Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
  • Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 Bộ luật Dân sự.

Lưu ý, người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.

Như vậy, pháp luật dân sự sẽ còn căn cứ vào độ tuổi, năng lực trách nhiệm dân sự của cá nhân để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại như đã liệt kê trên.

>>>Xem thêm: Xác định mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Luật sư tư vấn nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

  • Tư vấn trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
  • Tư vấn cách xác định mức bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;
  • Luật sư tư vấn, thu thập tài liệu, chứng cứ giúp hạn chế những vấn đề phát lý phát sinh, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên khi xảy ra tranh chấp;
  • Tư vấn hướng giải quyết sự vụ theo đúng quy định pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng;
  • Đại diện khách hàng theo ủy quyền làm việc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
  • Luật sư tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ.

Tư vấn nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Tư vấn nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Khi giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải xác định đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Nếu Quý khách hàng có khó khăn, thắc mắc cần luật sư tư vấn hợp đồng hỗ trợ trực tiếp hoặc có nhu cầu sử dụng dịch vụ luật sư tư vấn đại diện giải quyết tranh chấp, vui lòng liên hệ qua hotline 1900633716 để được tư vấn giải đáp chi tiết.

Tham khảo thêm một số bài viết về bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng khác chúng tôi đã chia sẻ:

Scores: 4.7 (28 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật Sư Võ Tấn Lộc

Chức vụ: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại học Luật, Luật sư

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 1,857 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn miễn phí gọi: 1900.633.716