Căn cứ xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Căn cứ xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi có ý nghĩa quan trọng trong tố tụng hình sự. Nó là một trong những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người phạm tội dưới 18 tuổi, qua đó có thể xác định được mức độ chịu trách nhiệm hình sự của người đó. Để có thể hiểu rõ hơn về cách xác định độ tuổi theo pháp luật mời Quý bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây của Luật L24H.

Căn cứ xác định tuổi theo pháp luật

Căn cứ xác định tuổi theo pháp luật

Quy định xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội

Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:

  • Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ tội phạm quy định tại các điều 134, 141, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
  • Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ tội phạm quy định tại các điều 123, 134, 141, 142, 144, 150, 151, 168, 171, 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật này;
  • Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp quy định tại Mục 2 hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm.

Vấn đề cần xác định khi người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Căn cứ Điều 416 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định như sau:

Những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

  • Tuổi, mức độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người dưới 18 tuổi.
  • Ðiều kiện sinh sống và giáo dục.
  • Có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục.
  • Nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội.

Chiếu theo quy định này, thì có 4 vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi.

>>>Xem thêm: Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự? Người 14-16 tuổi có bị xử lý hình sự?

Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi

Cách xác định theo Bộ luật Tố tụng Hình sự

Cách xác định tuổi

Cách xác định tuổi

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã quy định chặt chẽ, cụ thể cách xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi bảo đảm hợp lý nhất, phù hợp nguyên tắc có lợi cho người bị buộc tội là người chưa thành niên. Theo đó, Điều 417 quy định:

Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại là người dưới 18 tuổi do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác thì ngày, tháng, năm sinh của họ được xác định:

  • Trường hợp xác định được tháng nhưng không xác định được ngày thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
  • Trường hợp xác định được quý nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp xác định được nửa của năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.
  • Trường hợp xác định được năm nhưng không xác định được ngày, tháng thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trường hợp không xác định được năm sinh thì phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Việc quy định cách xác định tuổi của người chưa thành niên cụ thể như trên sẽ góp phần bảo đảm việc giải quyết các vụ án liên quan người chưa thành niên trong những trường hợp cần thiết được thuận lợi, kịp thời, vừa bảo đảm thực hiện nguyên tắc có lợi đối với người chưa thành niên phạm tội, đồng thời bảo vệ được tốt hơn quyền và lợi ích của người bị hại là người chưa thành niên trước sự xâm hại của tội phạm.

Căn cứ xác định

Căn cứ theo Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH về phối hợp thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi được ban hành ngày  21 tháng 12 năm 2018 quy định:

Việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

  • Giấy chứng sinh;
  • Giấy khai sinh;
  • Chứng minh nhân dân;
  • Thẻ căn cước công dân;
  • Sổ hộ khẩu;

Trường hợp các giấy tờ, tài liệu nêu tại khoản 1 Điều này có mâu thuẫn, không rõ ràng hoặc không có giấy tờ, tài liệu này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải phối hợp với gia đình, người đại diện, người thân thích, nhà trường, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc tổ chức, cá nhân khác có liên quan nơi người dưới 18 tuổi học tập, lao động, sinh hoạt trong việc hỏi, lấy lời khai, xác minh làm rõ mâu thuẫn hoặc tìm các giấy tờ, tài liệu khác có giá trị chứng minh về tuổi của người đó.

Trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp nhưng chỉ xác định được khoảng thời gian tháng, quý, nửa đầu hoặc nửa cuối của năm hoặc năm sinh thì tùy từng trường hợp cụ thể cần căn cứ khoản 2 Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự để xác định tuổi của họ.

Trường hợp kết quả giám định tuổi chỉ xác định được khoảng độ tuổi của người bị buộc tội, người bị hại thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy tuổi thấp nhất trong khoảng độ tuổi đã xác định được để xác định tuổi của họ.

Ví dụ: Kết luận giám định A có độ tuổi trong khoảng từ 13 tuổi 6 tháng đến 14 tuổi 2 tháng thì xác định tuổi của A là 13 tuổi 6 tháng.

Giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Vấn đề về giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Vấn đề về giám sát người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi

Theo Điều 418 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:

  • Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ra quyết định giao người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi cho người đại diện của họ giám sát để bảo đảm sự có mặt của họ khi có giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
  • Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát chặt chẽ người dưới 18 tuổi, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục người đó.

Trường hợp người dưới 18 tuổi có dấu hiệu bỏ trốn hoặc có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này hoặc tiếp tục phạm tội thì người được giao nhiệm vụ giám sát phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để có biện pháp ngăn chặn, xử lý kịp thời.

Tư vấn, bào chữa người dưới 18 tuổi phạm tội

  • Tư vấn về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
  • Tư vấn cách xác định tuổi của người phạm tội dưới 18 tuổi.
  • Tư vấn các căn cứ xin miễn trách nhiệm hình sự
  • Luật sư tham gia để bào chữa gỡ tội, giảm nhẹ hình phạt, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo đúng quy định đối với người dưới 18 tuổi từ giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tại các cấp cơ quan có thẩm quyền.

Độ tuổi là một căn cứ rất quan trọng trong việc xác định mức độ chịu trách nhiệm hình sự của một chủ thể. Vì vậy việc xác định tuổi trong tố tụng hình sự là vô cùng cần thiết. Nếu có thắc mắc hoặc cần luật sư hình sự tư vấn chi tiết về căn cứ xác định tuổi của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi Quý khách hàng có thể liên hệ đến hotline 1900.633.716 để được hỗ trợ kịp thời miễn phí.

Scores: 4.9 (26 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật Sư Võ Tấn Lộc

Chức vụ: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại học Luật, Luật sư

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 1,847 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn miễn phí gọi: 1900.633.716