Tư vấn tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn

19 Tháng Mười Một, 2021

Quyền nuôi con sau ly hôn là vấn đề được các cặp vợ chồng quan tâm, bên cạnh vấn đề nhân thân và tài sản. Bên cạnh việc xem xét mong muốn, khả năng nuôi dưỡng của hai bên, Tòa án còn xem xét nguyện vọng của con trên 07 tuổi. Qua bài viết dưới đây, chúng tôi sẽ TƯ VẤN hướng xử lý tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn trong các trường hợp cụ thể.

Ai có quyền trông nom, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn?

Trường hợp con dưới 36 tháng tuổi

Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (Luật HNGĐ), điểm d khoản 11 Nghị quyết 02/200/NQ-HĐTP, trường hợp con dưới 36 tháng tuổi (dưới 3 tuổi) thì quyền nuôi con thuộc về người mẹ, trừ các trường hợp:

  • Người mẹ không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; hoặc
  • Cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Nếu người mẹ không đủ điều kiện để nuôi con, Tòa án sẽ xem xét các điều kiện (điều kiện kinh tế, môi trường sống, quyền lợi về mọi mặt của con) để quyết định giao con cho người chồng, nếu người chồng có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Người chồng cũng cần đưa ra các bằng chứng chỉ ra hạn chế của vợ mình trong khả năng kinh tế, điều kiện chăm sóc, giáo dục con.

Trường hợp con trên 07 tuổi

Trường hợp con trên 07 tuổi, căn cứ khoản 3 Điều 84 Luật HNGĐ 2014, nếu có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con Tòa án phải xem xét nguyện vọng của con để đưa ra quyết định ai là người nuôi dưỡng con.

Nếu xét thấy cha mẹ đều không đủ điều kiện để nuôi con, Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn có thể giành lại quyền nuôi con không

Nếu trong quá trình giải quyết ly hôn, vợ chồng không đưa ra yêu cầu giải quyết quyền nuôi con, mà sau khi ly hôn mới có mong muốn nuôi dưỡng con cái, thì có thể:

  1. Thỏa thuận lại về việc ai là người nuôi con, hoặc
  2. Làm đơn khởi kiện tại TAND có thẩm quyền về việc thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con, căn cứ khoản 3 Điều 28 Luật HNGĐ 2014.

Trường hợp hạn chế quyền nuôi con của cha, mẹ

Căn cứ khoản 1 Điều 85 Luật HNGĐ 2014, trong các trường hợp dưới đây, cha, mẹ bị hạn chế quyền nuôi con chưa thành niên:

  • Cha, mẹ “bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
  • Phá tán tài sản của con;
  • Có lối sống đồi trụy;
  • Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Căn cứ khoản 1 Điều 86 Luật này, cha, mẹ, hoặc người giám hộ của con chưa thành niên theo pháp luật tố tụng dân sự có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền nuôi con của cha, mẹ đối với con.

Nếu cha, mẹ bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền nuôi con, thì căn cứ Khoản 1 Điều 87 Luật này, người còn lại có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

Hướng giải quyết quyền nuôi con

Trường hợp không thể thỏa thuận được, cha, mẹ, người thân thích và các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật HNGĐ 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, nếu có một trong các căn cứ tại khoản 2 Điều này:

  • Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;
  • Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Ngoài ra, một trong hai bên có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Trong đơn trình bày yêu cầu được nuôi con và các căn cứ chứng minh người còn lại không đủ điều kiện để chăm sóc con cái.

Bên cạnh đó, người khởi kiện cần cung cấp các chứng cứ chứng minh mình có đủ điều kiện để nuôi con hơn so với người còn lại, bao gồm điều kiện kinh tế (thu nhập thực tế, chỗ ở hợp pháp, đảm bảo sinh hoạt cho con, .v.v) và điều kiện nhân thân (lối sống lành mạnh, tuân thủ pháp luật,  có thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con, v.v.)

Khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp tại đâu

Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khởi kiện nộp đơn tại Tòa án nơi bị đơn cư trú.

Theo điểm b khoản 1 Điều này, trường hợp các bên thỏa thuận với nhau về nơi giải quyết TRANH chấp, thì vợ/chồng có quyền VIẾT ĐƠN yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú giải quyết.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn ly hôn của chúng tôi, cụ thể là vấn đề tranh chấp quyền nuôi con sau ly hôn. Chúng tôi hy vọng rằng bài viết này sẽ giúp ích cho Quý bạn đọc và mong rằng Quý bạn đọc có thể tìm ra giải pháp tốt nhất trong cuộc sống hôn nhân.

Nếu Quý khách có khó khăn cần TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo số tổng đài 1900.633.716 để nhận được Luật sư phản hồi nhanh chóng.

: Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng

Luật sư Phan Mạnh Thăng, thành viên đoàn luật sư TP.HCM, Trưởng Văn Phòng Luật Sư L24H, Giám đốc điều hành Long Phan PMT. Thạc sỹ chuyên ngành luật Kinh Tế – Trường đại học Luật TP.HCM.

Trả lời

Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai.
Chúng tôi sẽ phản hồi giải đáp thông tin bình luận của bạn trên website, email, điện thoại, chậm nhất sau 24h tiếp nhận. Chân thành cảm ơn!

  Hotline: 1900.633.716