Chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác có bị đi tù không?

Chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác lên mạng xã hội là hành vi trái đạo đức, làm ảnh hưởng và danh dự đến đời tư của họ. Với sự phát triển của thời đại công nghệ 4.0, việc chia sẽ, phát tán sẽ rất nhanh chóng và để lại những hậu quả vô cùng to lớn. Vậy, việc chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác có bị đi tù không và pháp luật Việt Nam đã có những quy định gì. Hãy theo dõi bài viết sau nhé!

Chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm của người khác

Chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm của người khác

Chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm có bị vi phạm pháp luật không?

Pháp luật nghiêm cấm việc sử dụng mạng internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích sau:

Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc

Bên cạnh đó, quyền con người cũng được pháp luật bảo vệ theo Hiến pháp 2013, theo đó

  • Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình.
  • Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn.

Do đó, việc chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ được xử phạt cụ thể trong từng trường hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại

Cơ sở pháp lý: Điều 20 Hiến pháp 2013

>>> Xem thêm: Bị đe dọa tung ảnh nóng cần làm gì?

Cách xử lý khi bị chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm

Hành vi chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác lên mạng xã hội tuỳ thuộc vào mức độ vi phạm, hậu quả xảy ra có thể bị xử phạt hành chính hoặc dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc làm này là hành vi sử dụng hình ảnh, clip nhạy cảm liên quan đến người khác mà chưa được sự đồng ý của người đó nên người thực hiện hành vi chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm đã vi phạm quyền cá nhân đối với hình ảnh như sau:

  • Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.
  • Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Do đó, cá nhân bị hại cần làm đơn tố giác tội phạm và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự để giải quyết những thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Ngoài ra, bị hại còn có quyền khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền yêu cầu người chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại, trong trường hợp vụ việc không cấu thành trách nhiệm hình sự.

Cơ sở pháp lý: Điều 32 Bộ luật dân sự 2015, Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự

Cách xử lý khi bị chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm

Cách xử lý khi bị chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm

>>> Xem thêm: Cần làm gì khi bị tung ảnh, clip nóng lên mạng xã hội?

Chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác bị xử lý ra sao?

Xử lý hành chính

  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc;
  • Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Vậy nên người nào có hành vi chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác lên mạng xã hội có thể bị phạt hành chính từ 10.000.000 đồng hoặc cao nhất lên đến 30.000.00 đồng

Cơ sở pháp lý: khoản 1, khoản 2 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP

Xử phạt hành chính

Xử phạt hành chính

Xử lý dân sự

Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

  • Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.
  • Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.

Theo như quy định trên thì người nào cố tình phát tán ảnh, clip quay nhạy cảm của người khác thì người bị phát tán có quyền yêu cầu Tòa án quyết định buộc người vi phạm thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng và kèm theo đó phải bồi thường thiệt hại và biện pháp xử lý khác theo quy định.

Cơ sở pháp lý: khoản 1, khoản 3 Điều 32 Bộ luật dân sự 2015

Xử lý hình sự

Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Dữ liệu được số hóa có dung lượng từ 01 gigabyte (GB) đến dưới 05 gigabyte (GB);
  • Sách in, báo in có số lượng từ 50 đơn vị đến 100 đơn vị;
  • Ảnh bản giấy có số lượng từ 100 ảnh đến 200 ảnh;
  • Phổ biến cho 10 người đến 20 người;
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Trong trường hợp nạn nhân bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm nghiêm trọng thì người phát tán còn có thể bị khởi tố thêm về tội làm nhục người khác, theo đó:

  • Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Cơ sở pháp lý: Điều 155, khoản 1 Điều 326 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Tư vấn, bảo vệ khi bị chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm lên mạng xã hội

  • Luật sư xác định mức độ phạm tội của người thực hiện hành vi chia sẻ ảnh, clip nhạy cảm
  • Soạn thảo giấy tờ pháp lý, đơn từ, chuẩn bị hồ sơ gửi cho cơ quan chức năng để thực hiện việc khởi kiện
  • Thay mặt khách hàng làm việc với cơ quan có thẩm quyền
  • Thực hiện các công việc, giải quyết các vấn đề pháp lý có liên quan

Bài viết đã cung cấp những thông tin pháp luật bổ ích liên quan đến vấn đề chia sẻ ảnh, clip quay nhạy cảm. Việc làm này là hoàn toàn vi phạm pháp luật và nếu để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng thì người thực hiện hành vi này có thể bị phạt hành chính hoặc nặng hơn là truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu có thắc mắc, cần luật sư TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ qua điện thoại trực tuyến, Quý đọc giả vui lòng liên hệ qua HOTLINE: 1900.633.716 để được LUẬT SƯ TƯ VẤN MIỄN PHÍ. Xin cảm ơn!

Scores: 4.5 (17 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật Sư Võ Tấn Lộc

Chức vụ: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại học Luật, Luật sư

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 1,808 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn miễn phí gọi: 1900.633.716