Quy định về việc phục hồi vụ án hình sự bị đình chỉ

Quy định về việc phục hồi vụ án hình sự bị đình chỉ là một hoạt động đặc biệt của cơ quan, người có thẩm quyền được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, vụ án hình sự bị đình chỉ được phục hồi khi có đầy đủ các căn cứ do pháp luật quy định và được ra quyết định bởi cơ quan tiến hành Tố tụng. Bài viết này sẽ cung cấp cho các bạn những kiến thức liên quan đến hoạt động phục hồi vụ án hình sự cũng như những quy định pháp luật có liên quan.

Phục hồi vụ án bị đình chỉ là gì

Phục hồi vụ án bị đình chỉ là gì

Đình chỉ vụ án hình sự là gì ?

Đình chỉ giải quyết vụ án hình sự là quyết định chấm dứt mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng đối với bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng. Vụ án nếu đã có quyết định đình chỉ thì không được phục hồi điều tra, truy tố, xét xử.

Đình chỉ vụ án hình sự có những đặc điểm sau:

Việc đình chỉ vụ án hình sự phải dựa trên căn cứ, thẩm quyền và trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đình chỉ vụ án hình sự là một hình thức kết thúc hoạt động tố tụng trong một giai đoạn tố tụng cụ thể, dẫn đến hậu quả là mọi hoạt động tố tụng đều phải chấm dứt.

Đình chỉ vụ án hình sự là quyết định tố tụng được áp dụng trong các giai đoạn khác nhau, bao gồm:

  • Đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố;
  • Đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm;
  • Đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm;
  • Đình chỉ vụ án trong giai đoạn giám đốc thẩm;
  • Đình chỉ vụ án trong giai đoạn tái thẩm;

Trường hợp ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự

Giai đoạn truy tố

Theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ sau:

  • Vụ án thuộc trường hợp chỉ được khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo yêu cầu của bị hại; hoặc người đại điện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần; hoặc thể chất nhưng đã rút yêu cầu khởi tố.
  • Vụ án đã được khởi tố, điều tra; nhưng quá trình điều tra đã xác định được vụ án đó thuộc trường hợp không được khởi tố; vì có một trong các căn cứ sau: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá,…
  • Khi có căn cứ cho rằng người phạm tội đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
  • Có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự thuộc một trong các trường hợp: Khi tiến hành điều tra, truy tố; xét xử do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa;…
  • Khi có căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử

Theo quy định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Vụ án thuộc trường hợp chỉ được khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo yêu cầu của bị hại hoặc người đại điện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết đã yêu cầu nhưng đã rút yêu cầu. Trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.
  • Vụ án đã được khởi tố, điều tra nhưng quá trình điều tra đã xác định được vụ án đó thuộc trường hợp không được khởi tố: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;…

Giai đoạn điều tra

Ngoài quy định về đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố và xét xử; vấn đề đình chỉ còn được đặt ra trong giai đoạn điều tra. Cụ thể:

Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;
  • Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
  • Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu; đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.
  • Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can; thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
  • Trong thời hạn 15 ngày; kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ; thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền
  • Trường hợp nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ; thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra; và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố; thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn; trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này.

Căn cứ để phục hồi vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 235, Điều 249, Điều 283 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì việc phục hồi vụ án hình sự bị đình chỉ phải dựa vào các căn cứ sau:

Bị can, bị cáo bị tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo đã được tạm đình chỉ vụ án này đã khỏi bệnh; đã có kết quả trưng cầu giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp đối với những vụ án hoặc bị can, bị cáo đã được tạm đình chỉ vụ án; đã bắt được bị can, bị cáo bị truy nã theo yêu cầu của Tòa án trước khi tạm đình chỉ vụ án đối với họ; đã có kết quả sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp lý trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo kiến nghị của Tòa án.

Vụ án được đình chỉ theo yêu cầu của người bị hại quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 nhưng sau đó phát hiện căn cứ cho rằng người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức.

Vụ án được đình chỉ khi có một trong các căn cứ sau đây nhưng xuất hiện lý do để hủy quyết định đình chỉ vụ án: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

Đối với vụ án có nhiều bị can, bị cáo cùng được tạm đình chỉ hoặc đình chỉ nhưng chỉ có lý do hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ đối với một hoặc một số bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.

Thẩm quyền phục hồi vụ án hình sự bị đình chỉ

Quy định về thẩm quyền phục hồi vụ án hình sự

Quy định về thẩm quyền phục hồi vụ án hình sự

  • Giai đoạn truy tố

Theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Chính cơ quan này trên cơ sở phạm vi thẩm quyền của mình, cùng những tài liệu thu thập được đã ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

  • Giai đoạn xét xử

Người có thẩm quyền ra quyết định phục hồi vụ án là Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án. Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục hồi. Đó là trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án hết nhiệm kỳ thẩm phán mà không được tái nhiệm, chuyển công tác, nghỉ hưu, ốm đau hoặc lý do khác mà không còn thẩm quyền hoặc không thể ra quyết định phục hồi vụ án theo quy định tại Điều 283 Bộ luật này.

  • Giai đoạn điều tra

Thẩm quyền ra quyết định phục hồi điều tra thuộc Cơ quan điều tra theo Điều 235 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nếu việc điều tra trước đây bị đình chỉ dựa trên các căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá, theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015) mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc Viện Kiểm sát cùng cấp đều có quyền ra quyết định phục hồi điều tra.

Phục hồi vụ án hình sự được thực hiện như thế nào?

Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do phục hồi vụ án và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Nội dung phục hồi vụ án bao gồm: Số, ngày, tháng, năm, địa điểm, ban hành Quyết định đình chỉ vụ án; Căn cứ ban hành Quyết định phục hồi vụ án; Lý do phục hồi vụ án; Họ, tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành Quyết định phục hồi vụ án và đóng dấu.

Khi phục hồi vụ án, cơ quan có thẩm quyền như Tòa án, Viện kiểm sát có quyền áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Theo đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn (bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh); các biện pháp cưỡng chế (áp giải, dẫn giải, kê khai tài sản, phong tỏa tài khoản).

Đối với việc phục hồi vụ án hình sự trong giai đoạn truy tố thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm sát phải giao quyết định phục hồi vụ án hoặc quyết định phục hồi vụ án đối với bị can cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Việc giao, nhận quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.(Khoản 3 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).

Đối với phục hồi điều tra vụ án hình sự thì trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ ( Khoản 2 Điều 235 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015).

Luật sư tư vấn về phục hồi vụ án hình sự

Tư vấn về quá trình phục hồi vụ án hình sự

Tư vấn về quá trình phục hồi vụ án hình sự

  • Tư vấn về các trường hợp phục hồi vụ án hình sự bị đình chỉ
  • Tư vấn về quyền và nghĩa vụ của khách hàng khi vụ án được phục hồi
  • Tư vấn về các giai đoạn trong Tố tụng hình sự
  • Tư vấn thủ tục khởi tố vụ án hình sự
  • Soạn thảo các hồ sơ, thủ tục gửi đến cơ quan có thẩm quyền trong suốt vụ án
  • Thay mặt khách hàng làm việc với các cơ quan Nhà nước

Qua bài viết trên, có thể thấy việc phục hồi vụ án hình sự bị đình chỉ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và thực hiện theo các trình tự, thủ tục chặt chẽ do các cơ quan có thẩm quyền. Hy vọng qua bài viết này, các bạn sẽ có thêm những thông tin bổ ích về vấn đề trên. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào về pháp luật Tố tụng hình sự, cần luật sư tư vấn luật hình sự hãy liên hệ ngay tới Luật L24H qua số Hotline: 1900.633.716 để nhận được sự hỗ trợ nhanh nhất. Xin cảm ơn.

Scores: 4.5 (28 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Trần Như Lực

Chức vụ: Luật sư cộng sự

Lĩnh vực tư vấn: Đất đai, Hình sự, Dân sự, Hôn nhân gia đình, Ly hôn, Lao động, Doanh nghiệp, Hợp đồng, Thừa kế và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 15

Tổng số bài viết: 101 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

  Hotline: 1900.633.716