Vợ chồng có quyền đại diện cho nhau thực hiện giao dịch dân sự không?

Vợ chồng có quyền đại diện cho nhau thực hiện giao dịch dân sự không là điều mà cả người vợ, người chồng và người thứ ba tham gia giao dịch dân sự đều quan tâm. Vậy theo Luật Hôn nhân và gia đình thì Vợ chồng có quyền đại diện cho nhau thực hiện giao dịch dân sự không.  Bài viết của Luật L24H dưới đây sẽ cung cấp cho Quý bạn đọc những quy định giữa vợ  và chồng được đại diện, ủy quyền cho nhau

Đại diện giữa vợ, chồng

Đại diện giữa vợ, chồng

Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập giao dịch không?

Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề đại diện như sau: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

Như vậy, đại diện giữa vợ và chồng là việc một bên vợ hoặc chồng nhân danh và vì lợi ích của người còn lại xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Quyền đại diện cho nhau giữa vợ và chồng là quyền mà pháp luật quy định hoặc có thể theo sự ủy quyền của một bên nào đó. Theo đó, một bên vợ hoặc chồng có thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người còn lại, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch không được xác lập, thực hiện thông qua người đại diện.

Căn cứ xác lập quan hệ đại diện giữa vợ và chồng

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quan hệ đại diện giữa vợ và chồng có thể được xác lập theo một trong hai trường hợp, đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền.

Đại diện theo pháp luật

Theo Khoản 3 Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì điều kiện để việc đại diện cho nhau giữa vợ và chồng được xác định như sau:

Thứ nhất, đại diện giữa vợ và chồng khi một trong hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự, Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự như sau:

  • Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Đối với người mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật quy định bắt buộc phải có người giám hộ. Bộ luật Dân sự 2015 quy định vợ hoặc chồng là người giám hộ đương nhiên, đầu tiên của vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành vi dân sự khi người này không có người giám hộ được xác định theo Khoản 2 Điều 48, Khoản 1 Điều 53 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự như sau:

  • Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

Thứ hai, đại diện giữa vợ và chồng khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Một cá nhân bị coi là bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi:

  • Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.

Căn cứ pháp lý: Khoản 1 Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015.

Đại diện theo ủy quyền

Đại diện theo ủy quyền giữa vợ chồng

Đại diện theo ủy quyền giữa vợ chồng

Khoản 2 điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

Theo quy định này, việc đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng chỉ áp dụng khi xác lập, thực hiện, chấm dứt một số giao dịch nhất định theo quy định của pháp luật. Đó là những giao dịch bắt buộc phải có sự đồng ý của vợ chồng nhưng một bên không thể trực tiếp tham gia giao dịch thì có thể uỷ quyền cho người còn lại thực hiện giao dịch đó.

Ví dụ như trường hợp đại diện giữa vợ chồng trong quan hệ kinh doanh (Điều 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014) hoặc trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với tài sản chung nhưng chỉ ghi tên vợ hoặc chồng (Điều 24, 25 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Với tư cách là người đại diện theo ủy quyền, một bên vợ hoặc người chồng có quyền thực hiện các giao dịch vì lợi ích của hai vợ chồng hoặc vì lợi ích của người còn lại trong phạm vi được uỷ quyền.

Điều 562 Bộ luật Dân sự 2015 về hợp đồng ủy quyền, cụ thể: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Hiện nay, Bộ luật Dân sự 2015 không quy định cụ thể về giấy ủy quyền, mà quy định về ủy quyền thông qua hợp đồng. Tuy nhiên, giấy uỷ quyền vẫn được sử dụng và tồn tại trên thực tế khi không vi phạm quy định pháp luật.

Căn cứ chấm dứt quan hệ đại diện giữa vợ và chồng

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, vợ chồng đại diện cho nhau theo pháp luật chấm dứt khi:

  • Năng lực hành vi dân sự của người được đại diện đã được khôi phục;
  • Người được đại diện hoặc người đại diện chết;
  • Căn cứ khác theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan.

Ví dụ như đã hoàn thành nhiệm vụ đại diện đối với trường hợp được tòa án chỉ định làm người đại diện trong những vụ việc cụ thể hoặc quan hệ hôn nhân chấm dứt bởi bản án/quyết định ly hôn có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền.

Quan hệ đại diện giữa vợ chồng trên cơ sở có ủy quyền sẽ chấm dứt trong những trường hợp sau:

  • Theo thỏa thuận của hai bên
  • Thời hạn uỷ quyền đã hết hoặc công việc được uỷ quyền đã hoàn thành
  • Người uỷ quyền huỷ bỏ việc uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền từ chối việc uỷ quyền
  • Người uỷ quyền hoặc người được uỷ quyền chết, bị toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết

Căn cứ pháp lý: Khoản 3, Khoản 4 Điều 140 Bộ luật Dân sự 2015.

Hệ quả vợ chồng đại diện cho nhau thực hiện giao dịch

Hệ quả đại diện giữa vợ, chồng

Hệ quả đại diện giữa vợ, chồng

Hệ quả pháp lý của các giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện trong trường hợp đại diện theo pháp luật

  • Thứ nhất, đại diện giữa vợ và chồng khi một trong hai bên bị mất năng lực hành vi dân sự.

Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Trong các trường hợp này, khi vợ hoặc chồng được xác định là người giám hộ của chồng hoặc vợ mình thì người đó có quyền, nghĩa vụ đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự. Khi thực hiện quyền đại diện cho người được giám hộ thì vợ hoặc chồng là người giám hộ có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản chung hoặc tài sản riêng của chồng hoặc vợ được giám hộ trên cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

  • Thứ hai, trường hợp vợ hoặc chồng được chỉ định là người đại diện cho chồng hoặc vợ mình bị hạn chế năng lực hành vi dân sự

Khoản 2 Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.

Trong trường hợp này, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nên họ có quyền tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự với người khác, nhưng các giao dịch này chỉ có hiệu lực pháp lý nếu có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.

Hệ quả pháp lý của các giao dịch do vợ, chồng thực hiện trong trường hợp đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng

  • Thứ nhất, hệ quả pháp lý của các giao dịch thực hiện trên cơ sở đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng liên quan đến tài sản riêng.

Trong trường hợp vợ, chồng ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản riêng của một bên thì quan hệ đại diện đó về bản chất không có gì khác đại diện giữa cá nhân với cá nhân trong quan hệ dân sự, được điều chỉnh bởi pháp luật về dân sự.

Người vợ hoặc chồng được ủy quyền là người có quyền đại diện cho chồng hoặc vợ mình để xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản riêng của người ủy quyền. Các giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện trong phạm vi đại diện sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện.

Căn cứ pháp lý: Điều 139 Bộ luật Dân sự 2015.

  • Thứ hai, hệ quả pháp lý của các giao dịch thực hiện trên cơ sở đại diện theo ủy quyền giữa vợ và chồng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng

Theo quy định tại Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch mà theo quy định của pháp luật phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng. Về nguyên tắc, các giao dịch liên quan tới tài sản chung của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng, trừ trường hợp các giao dịch được vợ hoặc chồng xác lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

Tuy nhiên, nếu định đoạt những tài sản chung của vợ chồng như bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì dù có vì nhu cầu thiết yếu của gia đình vẫn phải có sự thỏa thuận của vợ chồng bằng văn bản.

Sự thỏa thuận đó có thể được thể hiện qua việc ủy quyền khi một bên không thể trực tiếp tham gia giao dịch. Giao dịch do vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện trên cơ sở ủy quyền có giá trị pháp lý như giao dịch do cả hai vợ chồng xác lập và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng.

Tư vấn đại diện vợ, chồng trong giao dịch dân sự

  • Tư vấn các vấn đề pháp lý về đại diện giữa vợ, chồng trong giao dịch dân sự ;
  • Tư vấn về nội dung, hình thức thực hiện ủy quyền theo đúng quy định pháp luật;
  • Tư vấn khi một bên vợ chồng định đoạt tài sản chung trái luật;
  • Tư vấn giải quyết các tranh chấp về vấn đề liên quan đến tài sản chung vợ, chồng;
  • Luật sư tham gia giải quyết tranh chấp tài sản chung giữa vợ chồng, tham gia tố tụng tại tòa bảo vệ quyền lợi khách hàng.

>>> Xem thêm: Mẫu giấy ủy quyền cho vợ/chồng bán đất

Việc xác định có hay không quyền đại diện giữa vợ và chồng là hết sức cần thiết để dựa vào căn cứ đó xác lập quyền và nghĩa vụ của họ. Trên đây là những thông tin về vấn đề quan hệ đại diện giữa vợ và chồng, mọi thắc mắc vui lòng liên hệ luật sư tư vấn hôn nhân và gia đình 1900.633.716 hoặc gửi thư về địa chỉ email info@luat24h.com.vn của Luật L24H để được giải đáp cụ thể hơn.

Scores: 4.7 (44 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật sư Trần Như Lực
Luật sư Trần Như Lực

Chức vụ: Luật sư cộng sự

Lĩnh vực tư vấn: Đất đai, Hình sự, Dân sự, Hôn nhân gia đình, Ly hôn, Lao động, Doanh nghiệp, Hợp đồng, Thừa kế và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại Học Luật

Số năm kinh nghiệm thực tế: 15

Tổng số bài viết: 46 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

  Hotline: 1900.633.716