Thủ tục khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật vụ án hình sự

Thủ tục khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật là một trong những biện pháp điều tra được ra quyết định bởi cơ quan, cá nhân có thẩm quyền nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho hoạt động tố tụng, giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Để đảm bảo tính khách quan cho hoạt động này thì việc khám xét, thu giữ, tạm giữ phải tuân thủ theo quy định của pháp luật nói chung và Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 nói riêng.

Khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu

Khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu

Việc khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật được quy định như thế nào

Theo Điều 198, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét có nội dung như sau:

  • Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét.
  • Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi tiến hành khám xét được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người quản lý tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ.

Trong quá trình điều tra, mục đích của việc khám xét là để nhằm thu thập chứng cứ phục vụ cho việc điều tra, giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Các đồ vật, tài liệu phát hiện trong quá trình khám xét có thể là tài liệu, vật chứng có liên quan trực tiếp đến vụ án hoặc các đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành như tài liệu phản động, chống phá nhà nước Việt Nam, tài liệu đồi trụy…. Chính bởi vì những lý do đó mà khi khám xét, phát hiện những tài liệu, đồ vật nêu trên, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án.

Đối với các đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền.

Những trường hợp khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật trong vụ án hình sự

Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định các trường hợp được khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật trong vụ án hình sự như sau:

  • Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
  • Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
  • Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.

>>> Xem thêm: Thủ tục khám xét nơi làm việc, chỗ ở đúng quy định

Thẩm quyền yêu cầu khám xét, thu giữ, tạm giữ trong tố tụng hình sự

tham quyen ra quyet dinh kham xet

Thẩm quyền ra quyết định khám xét

 

Theo Điều 193 và khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định những người có thẩm quyền ra lệnh khám xét bao gồm:

  • Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
  • Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
  • Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp;
  • Hội đồng xét xử.

Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.

Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử theo Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông theo khoản 1 Điều 197 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Lệnh này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

Khi khám xét, Điều tra viên có thẩm quyền được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Quy định về trình tự, thủ tục khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật

Khi có đầy đủ căn cứ để khám xét chỗ ở, nơi làm việc địa điểm nhằm thu giữ đồ vật, tài liệu thì cơ quan, cá nhân có thẩm quyền cần tuân thủ theo các trình tu, thủ tục sau:

Trước khi tiến hành khám xét:

  • Trước khi tiến hành khám xét, những người có thẩm quyền theo Khoản 2 Điều 35, Khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 cần ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
  • Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người khẩn cấp theo Khoản 2 Điều 110 Bộ luật này 2015 có quyền ra lệnh khám xét.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ việc, vụ án.

  • Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.

Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định và đưa vào hồ sơ vụ án.

Trong quá trình khám xét:

  • Đối với chỗ ở của cá nhân thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người chứng kiến.

Trường hợp cá nhân đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

  • Đối với nơi làm việc của cá nhân thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.

Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi cá nhân làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét và 02 người chứng kiến.

Trong các trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi khám xét.

Theo Khoản 2, Điều 198, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định cụ thể là khi tạm giữ đồ vật, tài liệu phải lập thành biên bản theo quy định của pháp luật Việt Nam. Trong biên bản nêu rõ loại đồ vật, tài liệu, số lượng, tình trạng đồ vật, tài liệu…

Biên bản tạm giữ cần phải được cơ quan có thẩm quyền lập thành bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người quản lý tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản bàn giao cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản giao cho cơ quan quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ

Trong biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu phải miêu tả chủng loại, đặc điểm, màu sắc, số lượng, trọng lượng, chất lượng, kích thước của những đồ vật bị tạm giữ.

Cơ sở pháp lý: Điều 193, 195 và 198 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

Luật sư tư vấn về biện pháp khám xét trong Tố tụng hình sự

Tư vấn về hoạt động khám xét của cơ quan Nhà nước

Tư vấn về hoạt động khám xét của cơ quan Nhà nước

  • Tư vấn về trình tự, thủ tục khám xét theo thủ tục Tố tụng hình sự
  • Tư vấn các trường hợp được khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật trong vụ án hình sự
  • Tư vấn về thẩm quyền ra quyết định khám xét của cơ quan Nhà nước
  • Hướng dẫn xử lý khi có căn cứ cho rằng việc khám xét, thu giữ đồ vật tài liệu trái pháp luật

>>> Xem thêm: Thủ tục khám xét hành chính đúng quy định

Như vậy, việc khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu là một trong những hoạt động nhằm phục vụ cho mục đích điều tra, giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động này phải tuân theo những quy định của pháp luật nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng trong quá trình Tố tụng. Hy vọng qua bài viết, Luật L24H đã giải đáp cho các bạn những thắc mắc về vấn đề trên. Nếu còn thắc mắc hoặc cần tư vấn khám nhà ở, nơi làm việc cần luật sư hình sự tư vấn vui lòng gọi ngay 1900.633.716 để được tư vấn luật trực tuyến miễn phí. Xin cám ơn.

Scores: 4.5 (10 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật Sư Võ Tấn Lộc

Chức vụ: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại học Luật, Luật sư

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 1,852 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn miễn phí gọi: 1900.633.716