Phân biệt giám định lại và giám định bổ sung trong tố tụng hình sự

Phân biệt giám định lại và giám định bổ sung là một vấn đề được nhiều độc giả quan tâm hiện nay. Giám định lại và giám định bổ sung là những thuật ngữ pháp lý khác nhau. Tuy nhiên, nhiều người chưa phân biệt được hai khái niệm này, dẫn đến nhiều sự nhầm lẫn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ giúp độc giả có thể phân biệt được giám định lại và giám định bổ sung trong tư pháp.

Sự khác nhau giữa giám định lại và giám định bổ sung trong tố tụng hình sự

Sự khác nhau giữa giám định lại và giám định bổ sung trong tố tụng hình sự

Giám định là gì?

Theo khoản 1 Điều 1 Luật sửa đổi bổ, sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020, giám định tư pháp là việc người giám định tư pháp sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính theo trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu giám định theo quy định của Luật này.

Hoạt động giám định tư pháp cần được diễn ra theo trình tự, thủ tục luật định, một cách khách quan, chính xác. Song, không phải lúc nào giám định lần đầu cũng sẽ cho ra kết quả đầy đủ hoặc chính xác. Trong những trường hợp khác nhau, người tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định giám định lại, giám định bổ sung.

Các nguyên tắc khi thực hiện giám định tư pháp

Theo Điều 3 Luật Giám định tư pháp 2012 và khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ, sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020, nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp được quy định như sau:

  • Tuân thủ pháp luật, tuân theo quy chuẩn chuyên môn và quy trình giám định.
  • Trung thực, chính xác, khách quan, vô tư, kịp thời.
  • Chỉ kết luận về chuyên môn những vấn đề trong phạm vi được yêu cầu.
  • Chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận giám định.

Hồ sơ giám định tư pháp

Các giấy tờ cần chuẩn bị khi giám định tư pháp

Các giấy tờ cần chuẩn bị khi giám định tư pháp

Theo Điều 33 Luật Giám định tư pháp 2012 và khoản 19 Điều 1 Luật sửa đổi bổ, sung một số điều của Luật Giám định tư pháp 2020, hồ sơ giám định tư pháp do người thực hiện giám định tư pháp lập bao gồm:

  • Quyết định trưng cầu, văn bản yêu cầu giám định và tài liệu kèm theo (nếu có);
  • Biên bản giao, nhận hồ sơ, đối tượng trưng cầu, yêu cầu giám định;
  • Văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định;
  • Bản ảnh giám định (nếu có);
  • Kết luận giám định trước đó hoặc kết quả xét nghiệm, thực nghiệm giám định do người khác thực hiện (nếu có);
  • Tài liệu khác có liên quan đến việc giám định (nếu có);
  • Kết luận giám định tư pháp.

Hồ sơ giám định tư pháp phải được lập theo mẫu thống nhất do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quy định ở lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.

Tổ chức được trưng cầu, thực hiện giám định tư pháp chịu trách nhiệm bảo quản, lưu trữ hồ sơ giám định tư pháp do người giám định thuộc tổ chức mình thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ và quy định của bộ, ngành, cơ quan mình.

Người thực hiện giám định có trách nhiệm bàn giao hồ sơ giám định tư pháp cho cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp theo quy định của pháp luật về lưu trữ và quy định của bộ, ngành, cơ quan mình.

Hồ sơ giám định tư pháp được xuất trình khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự.

Điểm khác biệt giữa giám định lại và giám định bổ sung

Khái niệm

  • Giám định lại: là hoạt động giám định được tiến hành theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự về vấn đề đã được giám định khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác.
  • Giám định bổ sung: là hoạt động giám định được tiến hành nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án, vụ việc đã được kết luận giám định trước đó.

Trường hợp tiến hành

Theo Điều 211, 212 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, giám định lại sẽ được thực hiện khi thuộc một trong căn cứ sau đây:

  • Thứ nhất, khi có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác.
  • Thứ hai, khi Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định

Theo Điều 210 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, giám định bổ sung sẽ được thực hiện khi thuộc một trong các căn cứ sau đây:

  • Thứ nhất, nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ;
  • Thứ hai, khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó.

Cơ quan tiến hành

  • Giám định lại: Theo Điều 211 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc giám định lại phải do tổ chức, cá nhân giám định khác thực hiện.
  • Giám định bổ sung: Theo Điều 210 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện.

Thời gian giám định trong tố tụng

Thời gian giám định tư pháp

Thời gian giám định tư pháp

Theo Điều 208 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn giám định được quy định như sau:

Thứ nhất, thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:

  • Không quá 03 tháng đối với tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;
  • Không quá 01 tháng đối với nguyên nhân chết người và mức độ ô nhiễm môi trường;
  • Không quá 09 ngày đối với tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;

Thứ hai, thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quyết định trưng cầu giám định.

Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định trên thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định.

Thời hạn giám định quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.

>>> Xem thêm: Thời gian xin giám định vết thương sau khi bị đánh là bao lâu?

Tư vấn việc thực hiện giám định tư pháp

  • Tư vấn quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục giám định tư pháp;
  • Soạn thảo đơn yêu cầu giám định lại, giám định bổ sung;
  • Chuẩn bị hồ sơ, tài liệu liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng trong giám định tư pháp;
  • Liên hệ, làm việc trực tiếp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
  • Tư vấn các vấn đề liên quan khác.

Giám định lại và giám định bổ sung là hai khái niệm khác nhau và cũng mang bản chất khác nhau, được thực hiện trong một số trường hợp nhất định. Quý độc giả cần nắm rõ kiến thức pháp luật về hai thuật ngữ này để tránh những rủi ro không đáng có, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu còn thắc mắc về vấn đề trên cần luật sư hình sư tư vấn, vui lòng liên hệ qua Hotline 1900.633.716 để được luật sư hỗ trợ, tư vấn trực tuyến miễn phí.

Tham khảo thêm một số bài viết liên quan: 

Scores: 4.7 (42 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật Sư Võ Tấn Lộc

Chức vụ: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại học Luật, Luật sư

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 1,875 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn miễn phí gọi: 1900.633.716