Quy định về điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là cơ sở mà các cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét và ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án hình sự cho các phạm nhân. Điều này thể hiện sự nhân đạo, sự khoan hồng của Nhà nước ta đối với việc răn đe tội phạm. Do đó qua bài viết dưới đây của Luật L24H sẽ góp phần đem đến cho bạn đọc các thông tin liên quan đến vấn đề này theo quy định hiện hành.

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Đối tượng được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

  • Giảm thời gian chấp hành hình phạt tù mà chỉ áp dụng với người có quá trình cải tạo, lao động tích cực, biết tôn trọng quy định, kỷ luật của trại giam.
  • Nhà nước cũng có sự khoan hồng với người phạm tội gồm: người chưa thành niên; người tàn tật, mồ côi; phụ nữ có thai; người bị bệnh nan y; người đã lập công. ..
  • Hoặc người đã được giảm một phần hình phạt mà còn có hành vi phạm tội khác diễn ra trước nhưng được phát giác, điều tra, truy tố, xét xử trong quá trình chấp hành hình phạt của bản án với hành vi phạm tội gây ra sau, thì Toà án sẽ xét giảm lần đầu sau khi người ấy đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung

>>> Xem thêm: Các điều kiện hưởng án treo

Điều kiện giảm thời gian chấp hành hình phạt tù

Phạm nhân có đủ các điều kiện sau đây thì được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù:

  1. Đã chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn đối với hình phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười hai năm đối với tù chung thân;
  2. Có nhiều tiến bộ thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên, cụ thể như sau:
  • Phạm nhân bị phạt tù chung thân phải có ít nhất bốn năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm thời hạn được xếp loại từ khá trở lên. Trường hợp bị kết án tử hình được Chủ tịch nước ân giảm xuống tù chung thân phải có ít nhất năm năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên;
  • Phạm nhân bị phạt tù trên hai mươi năm đến ba mươi năm phải có ít nhất ba năm sáu tháng liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên;
  • Phạm nhân bị phạt tù trên mười lăm năm đến hai mươi năm phải có ít nhất ba năm liên tục liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên;
  • Phạm nhân bị phạt tù trên mười năm đến mười lăm năm phải có ít nhất hai năm liên tục liền kề hoặc tám quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên;
  • Phạm nhân bị phạt tù trên năm năm đến mười năm phải có ít nhất một năm hoặc bốn quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên;
  • Phạm nhân bị phạt tù trên ba năm đến năm năm phải có ít nhất sáu tháng hoặc hai quý liền kề thời điểm xét giảm được xếp loại từ khá trở lên;
  • Phạm nhân bị phạt tù ba năm trở xuống phải có ít nhất một quý gần nhất được xếp loại từ khá trở lên.

Cơ sở pháp lý : Điều 63 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.

Mức giảm thời hạn chấp hành tù

Căn cứ theo Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP thì mức giảm thời hạn chấp hành tù được quy định như sau:

  • Phạm nhân bị phạt tù chung thân, lần đầu được giảm xuống ba mươi năm.
  • Phạm nhân bị phạt tù từ ba mươi năm trở xuống, mỗi lần có thể được giảm từ một tháng đến ba năm. Trường hợp được giảm ba năm phải là những phạm nhân chấp hành nghiêm chỉnh Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ và lập công hoặc có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, học tập cải tạo.
  • Mỗi năm một phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù một lần, khoảng cách giữa hai lần xét giảm ít nhất là một năm. Trường hợp đã được giảm mà thời hạn tù còn lại không đủ một năm thì năm tiếp theo có thể đề nghị xét giảm sớm hơn trước một đợt, nhưng vẫn phải bảo đảm mỗi năm chỉ được xét giảm một lần.
  • Trường hợp sau khi đã được giảm thời hạn mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng như lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm thêm nhưng không được quá hai lần trong một năm.
  • Mỗi phạm nhân có thể được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành án phạt tù được một phần hai mức hình phạt tù có thời hạn đã tuyên hoặc hai mươi năm đối với hình phạt tù chung thân.

Cơ sở pháp lý: Điều 7 Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP.

Ngoài ra còn có mức giảm trong trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP:

Phạm nhân đã chấp hành được ít nhất một phần tư mức hình phạt đã tuyên đối với án phạt tù từ ba mươi năm trở xuống hoặc mười năm đối với tù chung thân và có đủ điều kiện về xếp loại chấp hành án phạt tù quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 6 Thông tư liên tịch này, có thể được xét, đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Phạm nhân đã lập công. Mỗi lần lập công, phạm nhân chỉ được xem xét, đề nghị giảm thời hạn một lần;
  • Phạm nhân đã quá già yếu;
  • Phạm nhân mắc bệnh hiểm nghèo.

Mức giảm mỗi lần cao nhất cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này là bốn năm, nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án phạt tù ít nhất là hai phần năm mức hình phạt đã tuyên hoặc mười lăm năm đối với hình phạt tù chung thân.

Trong trường hợp đặc biệt, khi có đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và được sự đồng ý của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phạm nhân có thể được xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc mức giảm cao hơn so với quy định ở khoản 1, khoản 2 Điều này.

CSPL: Điều 8 Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP.

Chấp hành hình phạt tù

Chấp hành hình phạt tù

Thời điểm xét giảm

Căn cứ vào Điều 12 Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về thời điểm xét giảm:

  • Việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 (ba) đợt, vào các dịp: Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), ngày Quốc khánh (2/9) và tết Nguyên đán. Đối với các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, thực hiện việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù vào dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12) thay cho dịp tết Nguyên đán. Năm để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được xác định từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 của năm đó.
  • Mỗi năm 01 phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 01 lần theo quy định tại Điều 38 của Luật Thi hành án hình sự. Sau lần xét giảm đầu tiên, nếu các năm tiếp theo phạm nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được xét giảm vào đúng đợt mà đã được xét giảm lần đầu. Trường hợp đã được giảm mà thời hạn tù còn lại không đủ 01 năm thì năm tiếp theo có thể đề nghị xét giảm sớm hơn 01 đợt, nhưng vẫn phải bảo đảm mỗi năm chỉ được xét giảm 01 lần.

CSPL: Điều 12 Thông tư liên tịch 02/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP

Thẩm quyền xét giảm

Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được quy định gồm:

  • Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
  • Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;

CSPL: Điều 36 Khoản 1, Điều 38 Khoản 1 Luật Thi hành án Hình sự 2019.

Luật sư tư vấn các điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

>>> Tham khảo thêm: Đơn xin giảm nhẹ hình phạt, trách nhiệm hình sự

Tư vấn điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Tư vấn điều kiện giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Trên đây là bài viết cung cấp các vấn đề liên quan đến việc giảm thi hành án phạt tù liên quan đến các điều kiện miễn giảm thời hạn, đối tượng được áp dụng, thời hạn, mức giảm cũng như thẩm quyền xét giảm. Nếu có bất cứ câu hỏi nào cần luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến miễn phí, xin liên hệ với Luật L24H qua số hotline: 1900.633.716 để được Luật sư tư vấn giải đáp.

Tham khảo thêm một số bài viết liên quan khác về tạm đình chỉ, hoãn chấp hành phạt tù, tha tù dịp Tết:

Scores: 4.6 (10 votes)

Bài viết được thực hiện bởi Luật Sư Võ Tấn Lộc

Chức vụ: Luật sư thành viên

Lĩnh vực tư vấn: Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác

Trình độ đào tạo: Đại học Luật, Luật sư

Số năm kinh nghiệm thực tế: 8 năm

Tổng số bài viết: 1,755 bài viết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Tư vấn miễn phí gọi: 1900.633.716